Lễ hội Ramưwan của đồng bào Chăm Hồi giáo Bàni ở Bình Thuận

Thuật ngữ Ramưwan, là từ phát âm từ chữ Ramadan của người Chăm Bàni. Cho đến nay, Ramưwan là một lễ hội lớn trong hệ thống lễ hội truyền thống của cư dân Chăm Bàni.

Theo www.btgcp.gov.vn

Nó có ý nghĩa và chiếm giữ một vị trí quan trọng trong đời sống xã hội của cộng đồng Hồi giáo Bàni. Lễ hội Ramưwan là biểu tượng của linh hồn và niềm tin nơi Thượng đế, nó luôn gắn chặt với đời sống của mỗi một con người từ khi cất tiếng khóc chào đời cho đến lúc chết. Nói về tiết lễ hội của cư dân Chăm nói chung, trong đó có Chăm Bàni, trong Đại Nam Nhất thống chí, ghi rằng: “người Chiêm theo Ni tục, cứ ba năm một lần thay đổi tiết lễ như các năm Tí, Sửu, Dần thì làm lễ vào tháng 3; các năm Mẹo, Thìn, Tỵ làm lễ vào tháng 4; các năm Ngọ, Mùi, Thân làm lễ vào tháng 5; các năm Dậu, Tuất, Hợi lễ vào tháng 6. Cứ thế luân chuyển mãi đến khi chết thì thổ táng”[1] . Và, tương truyền: Triều Nguyễn dưới thời vua Minh Mạng, từ năm thứ 14 (Giáp Ngọ - 1834) đã ra sắc chỉ cấm không cho người Chăm Hồi giáo thực hiện các nghi lễ trong tháng Ramưwan. Đến năm 1841 (Tân Sửu) - năm thứ nhất đời vua Thiệu Trị, thì lễ hội Ramưwan mới được phục hồi lại và tồn tại cho mãi đến ngày nay.

Cùng với ý nghĩa thần phục Thượng đế và tôn vinh vinh danh Allah, những người Chăm Bàni thực hành lễ hội Ramưwan còn mang ý nghĩa kế thừa và bảo tồn giá trị bản sắc văn hóa của tín ngưỡng, tôn giáo bản địa cổ Bàlamôm. Lễ hội Ramưwan là chiếc thang “giao cảm” với Thượng đế và Ông bà tổ tiên trong đời sống tâm linh của mỗi một tín đồ. Đồng thời, là sản phẩm văn hóa và tinh thần được hun đúc từ truyền thống tín ngưỡng dân gian của dân tộc này, góp phần nâng cao giá trị nhân văn và bản sắc văn hóa của dân tộc. Bởi thế, lễ hội Ramưwan được trải qua nhiều hình thức, nghi lễ khác nhau nó được nối tiếp nhau thành một chuỗi hệ thống các luật tục và lễ hội như là một di sản văn hoá riêng có, ở hai lĩnh vực lễ hội truyền thống và tín ngưỡng dân gian (Patăng Mukkẽi); lễ hội mang đậm nét tín ngưỡng tôn giáo (Bilanơk), bao gồm: Lễ Sug Amưrăm (Kinh hội đầu năm), lễ Sug Yơng (Kinh Hội), lễ Tảo mộ, Tháng Ramưwan và lễ Và ha.

 Lễ Sug Amưrăm, còn gọi là Kinh hội đầu năm, lễ này được tổ chức vào ngày 1 tháng 1 (Hồi lịch). Nhưng theo luật tục, ngày đó phải đúng vào ngày thứ 6 trong tuần. Kinh hội đầu năm là lễ nguyện tâu lên Thượng đế biết là năm mới đã đến, cầu xin Thượng đế phù hộ cho muôn dân luôn có cuộc sống yên lành và thịnh vượng.

Tục truyền, lễ Sug Amưrăm chỉ tổ chức ở Thánh đường do vị Tổng Sư Cả (Nùn Ray)[2] trụ trì và do vị Tổng Sư Cả làm chủ lễ - Tổng Sư Cả là một tước vị (phẩm trật) được Sư Cả ở các Thánh đường trong một tỉnh suy cử lên. Trước khi vào lễ chính thức, vị Tổng Sư Cả dâng lễ nguyện lên Thượng đế và cho phép một vị Mưm 40 có uy tín nhất trong số Mưm 40 của khu vực, ngồi chính giữa cầm cây gậy Thánh và đọc Kinh dâng lễ nguyện.

       Sug Amưrăm, là một lễ mở đầu cho qui trình của lễ hội Ramưwan.

       Lễ Sug Yơng, còn gọi là Kinh hội hoặc Kinh hội xoay vòng; lễ này được cử hành vào khoảng tháng 5 Chàm lịch, tức là vào khoảng tháng 8 dương lịch. Theo Hồi lịch, cứ 8 năm tháng Ramadan lại được lùi lại 3 lần, do vậy lễ Sug Yơng bao giờ cũng phải được diễn ra ở Thánh đường cuối cùng trước tháng Ramadan 30 ngày. Có lễ Sug Yơng thì mới có lễ hội Ramưwan trong tháng Ramadan, nó có ý nghĩa quan trọng không chỉ đối với hàng tu sĩ và những tín đồ Chăm Bàni; sự hội ngộ giữa những người trong làng, trong các cộng đồng cư dân Chăm mà nó còn được sự quan tâm của các dân tộc anh em.

Theo truyền thống, ngày thứ 6 là ngày Thánh lễ khai hội lễ Sug Yơng. Tuy nhiên, lễ này được tổ chức ở mỗi vùng lại có sự khác biệt nhau. ở cộng đồng Hồi giáo Bàni ở Bình Thuận mỗi năm cử hành một lần, mỗi tuần tổ chức ở một Thánh đường theo kiểu cuốn chiếu cho đến Thánh đường cuối cùng. Còn đối với cộng đồng cư dân Chăm ở tỉnh Ninh Thuận, thì lệ 3 năm cử hành một lần vào ngày thứ 6 trong tuần, cũng làm ở từng Thánh đường theo phương thức cuốn chiếu, vì vậy nên lễ hội Sug Yơng ở vùng này kéo dài trong khoảng thời gian một tháng rưỡi. Khác với lễ Sug Amưrăm, lễ Sug Yơng khi đến lượt của Thánh đường nào thì vị Sư Cả trụ trì của Thánh đường đó làm chủ lễ.

Lễ này, ngoài mục đích cầu cho “quốc thái dân yên”, mưa thuận gió hòa, nó còn là dịp tiến hành nghi lễ tấu chức (thọ phong) cho hai vị tu sĩ: một từ phẩm Achar lên Kh.Tib, một từ phẩm Kh.Tib lên Mưm Tân. (Ngay sau khi được tấu chức, hai vị chức sắc này thực hành việc dẫn lễ Sug Yơng cho đến hết lễ hội Ramưwan).

Theo tục, mở đầu lễ nguyện, vị Mưm Tân đánh ba hồi trống với ý nghĩa báo cho Thượng đế và Thiên sứ của Ngài biết cuộc dâng lễ bắt đầu; vị Tib tân trong lễ phục chĩnh tề tiến ra cửa chính ra dấu mở cửa để chào đón Thượng đế vào chứng lễ. Sau đó, cả hai vị Mưm Tân và Tib Tân cùng bước đến giữa Thánh đường đọc kinh cầu nguyện Thượng đế, rồi đi thẳng đến giá đỡ (IMưmpar) và rồi vị Tib Tân trình mơì vị Mưm 40 đón cây gậy Thánh và đọc kinh cầu nguyện (kinh Qur’an viết tay bằng chữ Ả Rập hai mặt trên một loại giấy trắng được quấn lại thành cuộn rất dài). Khi Thánh lễ vừa kết thúc, ở ngoài sân trước thánh đường từng tốp người là các bà, các chị và cả các em gái trong lễ phục của áo dài truyền thống, đầu đội từng mâm lễ vật hiến cho Thượng đế và ông bà tổ tiên. Các mâm lễ vật được phủ kín bởi các tấm vải mới đẹp, mỗi mâm lễ vật một màu khác nhau. Đây là một tiệc lễ có ý nghĩa “cúng hiến”. Tương truyền, tiệc lễ “cúng hiến” lớn cũng có nghĩa là lễ Sug Yơng mang lại cho dân làng nhiều điều tốt lành.

        Sau khi Sug Yơng tại Thánh đường kết thúc, trong từng gia đình tín đồ (vùng diễn ra lễ Sug Yơng) họ cũng làm lễ mở tiệc hiến dâng Thượng đế và Ông bà Tổ tiên; một mặt mừng kết thúc lễ Sug Yơng, đồng thời thể hiện truyền thống gắn kết trong dòng tộc và tính liên kết cộng đồng giữa họ tộc với xóm làng.

        Tục lễ Tảo mộ,

Lễ Tảo mộ là một trong năm lễ của hệ thống lễ hội Ramưwan của cư dân Chăm Bàni; một luật tục quan trọng có ảnh hưởng sâu sắc trong đời sống tâm linh, biểu hiện sự tôn kính, sự biết ơn đối với Tổ tiên, ông bà theo nghĩa “uống nước nhớ nguồn” và hướng về cội nguồn.

Theo luật tục và lệ tục, nghĩa địa (Khunhak) của cư dân Chăm Bàni được chọn ở những nơi có vị trí cao ráo, thông thoáng và sạch sẽ; ở những nơi cách xa làng mạc, xa nơi cư trú của cư dân. Tục về tang lễ của người Chăm Hồi giáo Bàni ở hai tỉnh Bình Thuận và Ninh Thuận, mặc dù có một số khác biệt, nhưng sự khác biệt đó không đáng kể. Tục về tang lễ có điểm chung là: lễ tục đơn giản, không phân biệt đẳng cấp, họ tộc. Tang lễ được qui định theo độ tuổi của người chết, như sau:

- Đối với người chết là một Sư Cả (Pô Grù), phải có 17 vị Achar (thầy Chang) làm lễ;

- Đối với người chết là các tu sĩ, chức sắc khác và những người giàu có, phải có 13 vị Achar làm lễ;

- Đối với người chết là người có tuổi thọ cao – từ 70 tuổi trở lên; lễ tang này có làm nghi thức rửa tội và do 6 Achar làm lễ;

- Đối với người chết ở độ tuổi từ 10 tuổi cho đến dưới 70 tuổi, lễ tang này phải do 3 vị Achar làm lễ;

- Đối với người chết trẻ – dưới 10 tuổi, nhưng được chôn cất trong nghĩa trang phải có 2 vị Achar làm lễ;

- Đối với người chết là trẻ con, người chết trong bào thai hoặc chết không bình thường phải chôn cất tạm (không được chôn cất trong nghỉa trang của dòng tộc) để sau này cải táng mới đưa vào nghĩa trang. Lễ tang này chỉ do 1 Achar làm lễ.

Mộ của những người chết được chôn theo từng khu vực, họ tộc. Mỗi họ tộc có hai dãy mộ, một dãy chính để chôn những người chết tốt, một dãy phụ để chôn những người chết xấu (chết không nguyên xác), bởi theo lệ tục: nếu người chết xấu mà chôn cùng dãy với người chết tốt, thì linh hồn người chết xấu sẽ quậy phá cuộc sống yên lành của họ tộc và những người đang sống. Trên mỗi ngôi mộ đặt hai cục đá núi[3] (là bia mộ), cục đặt ở phần trên đầu lớn hơn cục ở dưới chân. Tất cả các mộ được chôn có khoảng cách đều nhau, theo hướng Bắc - Nam, mặt quay về hướng Tây (hướng Thánh địa Makkah) nên hai cục đá (ở đầu và chân mộ) được xếp song song chạy dài thành hai hàng thẳng theo hướng Đông - Tây.

Luật tục lễ Tảo mộ được diễn ra trong thời gian 3 ngày, sau một tháng kể từ khi kết thúc lễ Sug Yơng, thường vào các ngày 28, 29 tháng 8 Hồi lịch. Lễ Tảo mộ được tổ chức rất tôn nghiêm theo từng làng, theo từng họ tộc. Ngày diển ra lễ tảo mộ, từ sáng sớm các tu sĩ và cư dân trong lễ phục truyền thống trang nghiêm, nếu là chức sắc hoặc tu sĩ thì mặc áo dài trắng có viền đỏ quấn khăn màu trắng, đầu bịt khăn trắng có tua màu đỏ và đội Đôn rong (một loại giỏ được đan bằng tre), bên trong đựng hai hộp bằng đồng có trầu cau đã têm sẵn, thuốc lá làm lễ vật cúng tế và tay cầm cây gậy.

Sau khi tảo mộ xong (dãy cỏ và vun đất cho từng ngôi mộ), các người trong họ tộc ngồi thành hai hàng dọc theo dãy mộ và đặt lễ vật cúng tế ở phía trước mặt. Vị tu sĩ có phẩm trật cao nhất làm chủ lễ bằng cách: Tay nâng một thùng đựng nước được pha cát lồi, vừa đọc kinh cầu nguyện vị tu sĩ vừa tưới nước lên các cục đá và các mộ với ý nghĩa là: tắm rửa rữa để làm sạch những ô uế trong năm qua, để linh hồn người đã khuất được thanh thản và yên lành, hưởng trọn năm mới. Sau khi làm xong tục tẩy rữa, vị tu sĩ chủ lễ đọc kinh cầu nguyền (đọc kinh Phoa thắt – ầu va) và mọi người đọc theo. Đọc xong, mọi người làm dấu thánh và khấn vái ông bà, tổ tiên phù hộ cho xóm làng họ tộc cùng những người đang sống được hưởng cuộc sống bình yên và hạnh phúc.

Sau cùng là tục chia cho mỗi người một ít nước vào chén, uống một ngụm rồi tưới lên cục đá của ngôi mộ trước mặt và lấy trầu cau đã têm sẵn nhét xuống những ngôi mộ. Và, mọi người cũng ăn bánh, hút thuốc, kết thúc lễ tảo mộ.

Ngoài ra, sau khi thực hành xong tục lễ tảo mộ, từng gia đình sửa soạn mua sắm những lễ vật quí để mừng năm mới tại nhà. Lễ mừng năm mới tại nhà do ba vị tu sĩ làm chủ lễ. Khi cúng, vị tu sĩ có phẩm trật cao hơn phải ngồi giữa, các nghi lễ cúng tại nhà khoảng một giờ ba mươi phút. Sau khi cúng ông bà, tổ tiên ở từng gia đình xong, vào chiều ngày mùng 1 tháng 9 (Hồi lịch) tất cả chức sắc, tu sĩ vào Thánh đường cầu nguyện mở đầu cho tháng Ramadan của người Hồi giáo Bàni. 

       Tháng Ramadan (Tháng nhịn chay),

Khác với Hồi giáo (Islam), Hồi giáo Bàni có một hệ thống chức sắc và tu sĩ chuyên nghiệp. Do vậy, thực hành những luật tục trong tháng Ramadan là bổn phận và chức năng của những chức sắc và tu sĩ, bao gồm: Sư Cả (Pô Grù), Mưm (Thầy Mưm), Kh.Tib và A char (Thầy Chang); những tín đồ Hồi giáo Bàni – kể cả nam tín đồ, theo luật cũng không phải thực hành tháng Ramadan.

Tháng Ramadan, bắt buộc tất cả tu sĩ đều phải vào Thánh đường; Trong tháng này, người Hồi giáo Bà ni cũng thực hành năm lễ nguyện (đi kinh) trong một ngày; Các loại kinh trong lễ nguyện thứ tự nội dung như sau: Kinh Vắt rcha, Vắt Chụphi, Vắt Várí, Vắt ótcharí và Vắt Càripa. Tháng Ramadan của người Chăm Bàni còn thực hành bắt buộc hai luật tục quan trọng, là: lễ đổi gạo (một hình thức bố thí) và lễ đưa cây gậy Thánh ra ngoài, với các nghi thức rất tôn nghiêm.

Các chức sắc, tu sỉ sau khi hoàn tất công việc chuẩn bị, đúng vào lúc hoàng hôn (mặt trời lặn), dưới sự điều khiển của vị Sư Cả tất cả tu sĩ đi về phía bên trái của Thánh đường, xếp thành từng hàng và phải nhìn về hướng Tây (nơi những ánh hoàng hôn đang chiếu sáng) và đọc kinh dâng lễ nguyện để tâu với Thượng đế về số lượng tín đồ của Thánh đường và số chức sắc, tu sỉ vào tháng Ramadan. Trước khi vào bên trong Thánh đường, các chức sắc phải đứng trên các phiến đá hoặc những ô kẻ trên nền sân xi măng làm thủ tục tẩy thể.

Trong suốt tháng Ramadan, những chức sắc Hồi giáo Bàni thực hiện ba trong năm điều sống đạo (năm cốt đạo) là xác tín, cầu nguyện mỗi ngày và thực hiện tượng trưng bố thí bằng hình thức lễ đỗi gạo. Lễ đổi gạo được tiến hành vào ngày cuối cùng của tháng Ramadan.

Hồi giáo Bàni quan niệm thực hiện tháng Ramadan là tháng “ép xác”, bởi họ tin rằng kiêng kị mọi sinh hoạt của con người và nhịn ăn, nhịn uống để hiểu và thông cảm cho những cảnh nghèo khó của con người, để nhận biết về những thiệt thòi của những con người thiếu may mắn và là điều kiện tạo cho họ một nghị lực chế ngự mọi ham muốn tầm thường và những dục vọng xấu xa trong cuộc sống.

Tháng Ramadan, ngoài Thánh lễ ngày thứ 6, Hồi giáo Bàni còn có 2 Thánh lễ được coi là quan trọng hơn hết là lễ vào đêm của ngày thứ 15 và đêm của ngày thứ 20, Đêm thứ 15 gọi là 15 nồi hay còn gọi là đêm Ró mú, có nghĩa là đêm rước Bà; đêm thứ 20, gọi là đêm 20 nồi, còn gọi là Ró ôn, có nghĩa là đêm đón Ông.

Ngoài ra, vào đêm thứ 27 của Tháng Ramadan còn có lễ tấu chức phẩm M.Thình cho một vị tu sĩ AChar. Mỗi Thánh đường chỉ được tấu chức cho một tu sĩ duy nhất.

Lễ Vàha,

Lễ Vàha còn gọi là lễ Tết ra. Theo cổ tục, lễ này khai hội vào khoảng thời gian đúng lúc mặt trời lặn của ngày thứ năm, của một ngày cách ngày kết thúc tháng Ramadan vừa tròn 2 tháng 10 ngày, để ngày thứ 6 kế tiếp thực hiện dâng lễ nguyện kết thúc quy trình lễ hội Ramưwan.

Tục truyền, trước ngày khai hội lễ Vàha 10 ngày, tất cả cộng đồng cư dân Chăm (cả Chăm Bàni và Chăm Bàlamôn) đều thực hiện tục kiên không sát sinh, không có những hành vi gây gỗ làm mất trật tự trong làng (Pơlay). Đối với người Chăm Bàlamôn, nếu trong dịp diễn ra lễ Vàha mà có người chết là một điềm rất xấu, thân xác người chết không được hoả táng mà phải đem thổ táng và đúng ngày naỳ của 3 năm sau thì lấy cốt đưa đi hoả táng rồi mới nhập Kút theo tục. Tục này, không biết có từ bao giờ, nhưng các cộng đồng cư dân Chăm thực hành rất nghiêm ngặt.

 Trong lễ Vàha, còn cử hành tục cắt cổ và làm thịt hai con gà có bộ lông màu trắng; tục đưa cây Gậy thánh ra ngoài lần thứ 2 và lễ tấu chức (thọ phong) Mưm 40. Tục đưa cây gậy Thánh ra ngoài lần thứ hai trong một năm, chỉ được thực hành khi trong thời gian lễ Vàha không diễn ra những điều xấu, điều không lành trong cộng đồng.

Lễ tục đưa cây gậy Thánh ra ngoài được thực hiện một năm 2 lần, lần đầu vào ngày cuối cùng của tháng Ramadan (tháng nhịn chay) và lần thứ 2, nghi thức sau cùng để kết thúc lễ Vàha – lễ kết thúc chuổi hệ thống lễ hội Ramưwan.

Cây gậy Thánh là biểu tượng của uy quyền và sức mạnh của Thượng đế, được làm bằng gỗ Trầm hương – một loại gỗ quý hiếm, có chiều dài 2,2 mét và đường kính là 0,04 mét. Những ngày thường cây gậy Thánh được bọc bởi một lớp vải nhung màu đỏ và được bảo vệ bằng một lớp vải trắng, treo trên mái Thánh đường (bên trên Toà Thánh Thượng đế), khi làm lễ được rước tới và để bên cạnh Toà Thánh Thượng đế. Lễ đưa cây gậy Thánh có ý nghĩa thiêng liêng trong đời sống tinh thần của cư dân Chăm Bàni. Theo luật tục: Nếu trong tháng Ramadan và trong dịp lễ Vàha dân làng không gặp những điều xấu xa, không có người chết cũng có nghĩa là dân làng được hưởng một tháng Ramadan hoặc một cuộc lễ Vàha trọn vẹn và yên lành, thì mới được phép thực hành tục đưa cây gậy Thánh ra ngoài.

Nghi lễ đưa cây gậy Thánh ra ngoài, được tổ chức nghiêm ngặt và long trọng trong sự tôn vinh, được thực hành làm 2 bước. Trước tiên, là làm thủ tục đưa cây gậy Thánh xuống, bước tiếp theo là đưa cây gậy Thánh ra ngoài. Từ buổi chiều hôm trước, sau khi dâng lễ nguyện, vị M.Thình tiến tới đón cây gậy Thánh từ mái nhà bên trên của Tháp gỗ (IMưmpar) hay còn gọi là Toà Thánh Thượng đế xuống, chuyển cho vị M.Thình mới rồi vị M.thình cũ làm thủ tục mở lớp vải trắng bọc bên ngoài, sau đó vị M.Thình mới cầm cây gậy Thánh hướng về phía Toà Thánh Thượng đế. Lúc này, vị Sư Cả trong lễ phục trang trọng từ trên chiếc giường bước xuống, làm lễ cho vị M.Thình mới, Tib tân và Mưm tân cùng làm dấu Thánh; cây gây Thánh tiếp tục được chuyển xuống, được vị M.Thình mới đón nhận và nâng lên trao cây gậy Thánh cho vị Sư Cả làm thủ tục. Vị Sử Cả tiếp nhận và nâng cây gậy Thánh lên ngang ngực, vuốt dọc Cây gậy Thánh với ý nghĩa là để đón nhận những phúc lành của Thượng đế ban cho. Sau cùng, vị M.Thình (cũ) hướng dẫn cho vị M.thình (mới) đón cây gậy Thánh và đưa đến đặt đứng bên cạnh Toà Thánh Thượng đế, để sáng ngày hôm sau làm lễ chuyển cây gậy Thánh ra ngoài.

Đến sáng hôm sau (ngày thứ 30 của tháng Ramadan), sau khi hoàn thành nghi thức dâng lễ nguyện, ba vị M.Thình bước vào Thánh đường, tiếp theo là vị Mưm tân và Tib tân. Vị M.Thình tiến thẳng đến Toà thánh Thượng đế đọc một câu kinh cầu nguyện và làm dấu Thánh, lấy hai tay vuốt dọc cây gậy Thánh (lúc này đã có 6 vị tu sĩ khác đứng thành hai hàng, mặt quay ra hướng cửa của Thánh đường). Vị M.Thình hai tay nâng cây gậy Thánh lên từ nơi Toà Thánh Thượng đế, đưa đi dưới tấm vải trắng do 6 vị tu sĩ căn lên, vừa đi vừa đọc kinh cầu nguyện. Cây gậy Thánh đưa ra ngoài và được rước đến trước nhà khách của Thánh đường. Ngay sau đó, vị M.Thình tiếp tục đưa cây gậy Thánh vào đặt lại chổ qui định.

Sau cùng, là vị Tib tân tiến đến Toà Thánh Thượng đế, cầm cây gậy làm dấu thánh và đọc kinh cầu nguyện kết thúc lễ nguyện đưa cây gậy Thánh ra ngoài, cũng có nghĩa là kết thúc lễ hội Ramưwan và lễ Vàha.

Lễ tục đổi gạo,

Tục này, được tiến hành vào sáng ngày thứ 30 của tháng Ramadan, (nó mang ý nghĩa như bố thí của Hồi giáo) do vị Mưm Tân làm chủ lễ.

Theo qui định, gạo đựng sẵn vào thúng và được xếp thành hai hàng dọc theo hướng Đông - Tây của Thánh đường, các tu sĩ cũng ngồi vào chỗ phần gạo của mình được người nhà đem đến (mỗi thúng gạo có một cái chén). Để chia gạo không sai sót, các vị tu sĩ phải báo cho vị Mưm Tân biết dòng tộc, họ hàng của mình có bao nhiêu người chết, bao nhiêu người còn sống. Khi lễ chia gạo bắt đầu, vị Mưm tân tay cầm một cái ống đong gạo bằng tre (được cắt một đầu dài, một đầu ngắn); đầu dài là suất đong cho người đàn ông và đầu ngắn là suất đong cho người phụ nữ, (theo quan niệm đàn ông ăn nhiều, phụ nữ ăn ít). Theo luật tục, khi vị Mưm tân xúc ở phía trước là phần suất của người sống, còn xúc ở phía sau là phần suất cho người chết; mỗi lần 3 ống cho một người, cứ thế chia cho đến khi hết gạo. Tiếp theo tục chia gạo của mình cho người bên cạnh và người bên cạnh cũng đưa chén gạo của mình cho vị Mưm tân; rồi vị Mưm tân lại xúc chén gạo khác đổi cho người tiếp theo…Cứ thế, đổi cho đến khi hết gạo và thúng gạo của mỗi người có đủ số chén gạo của tất cả các tu sĩ trong Thánh đường, đồng thời là kết thúc lể đổi gạo.

Tục lễ cắt cổ gà,

Trong thời gian đi kinh (dâng lễ) để đưa cây gậy Thánh về đặt lại bên trên Tòa Thánh Thượng đế, nghiêm cấm mọi người không ai được đi lại dọc hai bên Thánh đường. Theo qui định, ở thời điểm này vị M.Thình được ra ngoài đến phía góc phải của Thánh đường để làm lễ cắt cổ gà; cặp gà để làm lễ hiến cúng thần linh, phải là cặp gà có bộ lông toàn màu trắng và do người nhà của vị Kh.Tib tân chuẩn bị trước, mang đến chờ sẵn với một con dao thật bén và một chén nước. Khi cắt cổ gà, vị M.Thình ngồi quay mặt về hướng Tây, miệng đọc kinh cầu nguyện; cầu nguyện xong lấy nước rửa cổ gà cho sạch và theo lệ tục thì khi cắt phải cho máu con gà chảy xuống đất. Khi con thứ nhất chết hẳn thì mới được phép tiếp tục cắt cổ con thứ hai.

Việc thực hành tục lễ cắt cổ gà với ý nghĩa để loan báo cho mọi tín đồ biết là thời gian kiêng kị đã kết thúc, từ đây được sát sinh, được làm các công việc bình thường của con mỗi một người trong đời sống hàng ngày.

Tục cắt bì,

Việc thực hành tục “phép cắt bì cho các bé trai, bé gái ở độ tuổi trưởng thành (tức ở độ tuổi từ 14 đến 15 tuổi) của người Chăm Bà ni là một lễ nghi bắt buộc, đánh dấu thời kì chuyển tiếp của tuổi trưởng thành trong một con người (tuổi chuẩn bị bước vào hôn nhân); sự nhìn nhận của Thượng đế đối với con người – có ý nghĩa là lễ nhập đạo.

Phép cắt bì, đối với các bé trai gọi là tục cắt qui đầu (lễ Khatan); đối với các bé gái gọi là tục cấm phòng (Karơh). Nhưng bởi truyền thống bản địa cổ, nên phép cắt bì đối với các bé gái được coi quan trọng hơn và tổ chức rất nghiêm trang, bằng hình thức cắt tóc một cách tượng trưng. Theo luật tục, phép cắt tóc (Nga Oroh) được tổ chức từ 5 đến 7 bé một lượt, thường là trong cùng một họ tộc và được tổ chức tại một tư gia hoặc tại Thánh đường. Nghi lễ Cấm phòng (Karơh) được tiến hành như sau: Từ chiều hôm trước, các bé gái đã đến tuổi “Cấm phòng” tập trung về nơi Thánh đường (chùa) được sắp xếp ngủ ở một ngôi nhà được chuẩn bị trước, nghiêm cấm không được phép ra ngoài. Vì vậy, phải cử 4 bà già canh giữ; vị Sư Cả (PôGrù) và các Thầy Mưm đọc kinh cầu nguyện ở Thánh đường hoặc ở một ngôi nhà được chuẩn bị trước (nơi sẽ diễn ra lễ Karơh). Đến sáng ngày hôm sau, các cô gái làm thủ tục tẩy thể, mặc lễ phục màu xanh đỏ và được một người đàn ông mặc y phục màu trắng (y phục truyền thống của người Chăm) và một người đàn bà lớn tuổi, bồng một cháu bé (khoảng chừng một tuổi) hướng dẫn các bé gái lần lượt vào nơi làm lễ đã được định. Vị Sư Cả giữ vai trò chủ lễ, sau lời cầu nguyện Thượng đế, Ông đặt vào miệng bé gái đang chịu lễ một hạt muối, cắt một lọn tóc và cho uống một ngụm nước. Sau đó, bé gái vừa chịu lễ quay lại ngôi nhà để tiếp tục cấm phòng. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày hôm đó, các bé gái vừa chịu lễ thay y phục màu trắng trở ra và quay lại nhà chịu lễ, lạy tạ vị PôGrù và các Thầy Mưm. Sau cùng là vị PôGrù đặt tên Thánh cho các bé gái này.

      Kết thúc lễ cấm phòng (Karơh) các bé gái được cha mẹ, bạn bè chúc mừng và tặng nhiều vật phẩm trang sức quý, hơn thế nữa được tặng cả trâu bò, ruộng đất như là của hồi môn khi lập gia đình.

       Tóm lại, lễ hội Ramưwan là chiếc thang “giao cảm” với Thượng đế và Ông bà tổ tiên trong đời sống tâm linh của mỗi một tín đồ. Vì vậy, việc thực hành lễ hội Ramưwan của đồng bào Chăm theo Hồi giáo Bà ni, ngoài ý nghĩa thần phục Thượng đế và tôn vinh vinh danh Allah, lễ hội này còn mang ý nghĩa kế thừa và bảo tồn giá trị bản sắc văn hóa của tôn giáo bản địa cổ Bàlamôm. Đồng thời, là sản phẩm văn hóa được hun đúc từ truyền thống tín ngưỡng dân gian của dân tộc này, góp phần nâng cao giá trị nhân văn và bản sắc văn hóa Việt Nam ./.

 

                                                                    Trân tiến Thành

 

[1] Nếu theo phong tuc hiện hành, thì sử liệu này có lẽ đã có sự nhầm lẫn trong Đại Nam nhất thống chí của Triều đình Nhà Nguyễn. Tuy nhiên, nó cũng là một sử liệu của nhà nước phong kiến Việt Nam đã công nhận sự tồn tại của lễ hội Ramưwan trong cư dân Chămpa xưa.

 2 Tước vị Tổng Sư Cả (Nùn Ray), ngày xưa người Chăm xưa gọi là “Ông Yêu”, là người đại diện cho chức sắc, tín đồ làm việc với Vua, với các vị Thánh.

 3 Những cục đá đặt ở mộ người chết phải là đá sạch, đi lấy ở núi cao hoặc sông, suối - nơi mà không có chân con người giẫm đạp lên, nhằm bảo đảm sự linh thiêng và tôn nghiêm.

 

Góp ý
Họ và tên: *  
Email: *  
Tiêu đề: *  
Mã xác nhận:
 
 
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper  
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.