Mối quan hệ giữa Hậu hiện đại và phong trào Tôn giáo mới: Đồng thuận và đối lập

Chủ nghĩa Hậu hiện đại và phong trào Tôn giáo mới là hai thuật ngữ khoa học không xa lạ gì với các nhà nghiên cứu Tôn giáo trong nước. Về chủ nghĩa Hậu hiện đại, có thể liệt kê hàng loạt dài các bài viết liên quan với số lượng không hề nhỏ; trong khi đó Tôn giáo mới tuy về số lượng thua kém hơn nhưng sự quan tâm đến Tôn giáo mới là không hề nhỏ từ giới khoa học đến giới bình dân.


Nguyễn Chiến Trường

Chủ nghĩa Hậu hiện đại và phong trào Tôn giáo mới là hai thuật ngữ khoa học không xa lạ gì với các nhà nghiên cứu Tôn giáo trong nước. Về chủ nghĩa Hậu hiện đại, có thể liệt kê hàng loạt dài các bài viết liên quan với số lượng không hề nhỏ; trong khi đó Tôn giáo mới tuy về số lượng thua kém hơn nhưng sự quan tâm đến Tôn giáo mới là không hề nhỏ từ giới khoa học đến giới bình dân.

Tuy nhiên,  một thực tế rằng, dẫu với số lượng rất lớn bài nghiên cứu cả hai đối tượng như thế, nhưng mối quan hệ giữa chúng với nhau thì lượng bài nghiên cứu còn khá khiêm tốn.[1] Và hầu hết các bài nghiên cứu ấy đều đồng thuận ở vấn đề có một mối quan hệ nhất định giữa Lý thuyết Hậu hiện đại và phong trào Tôn giáo mới.

Nhưng với góc nhìn khác, tôi thấy sự phức tạp trong việc thống nhất ý nghĩa lẫn ý nghĩa của cả hai khái niệm “ Hậu hiện đại” và “Tôn giáo mới”. Từ đó, tôi thấy ra cả sự đồng thuận lẫn sự đối nghịch mà sự đối nghịch là bản chất trong mối quan hệ giữa lý tưởng Hậu hiện đại và lý tưởng Tôn giáo mới.

Do đó, tôi mạnh dạn viết bài tham luận này, mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp và phản hồi của người đọc để ý tưởng cũng như bài viết này được cơ hội gọt dũa và hoàn chỉnh.

Từ sự phức tạp của “Hậu hiện đại”, “Chủ nghĩa Hậu hiện đại”……

Theo sự nghiên cứu của tác giả Nguyễn Minh Quân[2] , danh từ “postmodernism” được Federico de Onis đưa vào văn bản lần đầu vào thập niên 1930 để chỉ sự ảnh hưởng đối kháng với chủ nghĩa hiện đại. Trong suốt thập niên 60, danh từ postmodernism được nhiều giới nghệ sĩ, nhà văn và nhà phê bình như Rauschenberg, Cage, Burroughs, Barthelme, Fielder, Hassan và Sontag sử dụng để chỉ trích sự cạn kiệt của chủ nghĩa hiện đại và để mô tả những khuynh hướng nghệ thuật muốn vượt qua những phạm vi giới hạn của chủ nghĩa đó. Khuynh hướng hậu hiện đại từng bước tạo những ảnh hưởng rộng lớn hơn, lôi kéo sự bàn luận và chú ý của giới trí thức đại học như Bell, Kristeva, Lyotard, Vattimo, Derrida, Foucault, Harbemas, Baudrillardd và Jameson.

Với quan điểm của tác giả Thụy Khuê[3], quan điểm “Hậu hiện đại” khởi nguồn từ hoàn cảnh xã hội, chính trị và văn hoá Pháp, mùa xuân 1968. Sự nổi dậy của sinh viên Pháp thời điểm này mà Lyotard là một trong những người đã đóng góp tích cực vào phong trào đã dẫn đến cuộc "cách mạng văn hóa toàn cầu", chống lại tất cả những hình thức bảo thủ, áp đặt của các chế độ văn hóa, chính trị cũ, đặc biệt ở Pháp dưới thời hai tổng thống de Gaulle và Pompidou. Vì cần một không khí dễ thở hơn, tự do hơn, tiến bộ hơn; vì có nhu cầu sản xuất cái mới, cho nên người ta cố gắng tìm cách sáng chế những chủ đề tân kỳ, những chữ mới lạ, để chứng minh tất cả những gì thuộc "chế độ cũ" đều đã quá đát, "phản tiến bộ".

Trong bối cảnh ấy, cuốn Điều kiện hậu hiện đại của Lyotard ra đời, do nhà xuất bản Minuit ấn hành tại Paris năm 1979. Đây là một cuốn sách triết học bàn về thân phận tri thức thời nay, thời mà khoa học và tin học đã nắm "chủ quyền tuyệt đối" trên mọi lãnh vực thông tin và tri thức trở thành một món hàng thương mại trao đổi.[4]

Nói một cách dễ hiểu Hậu hiện đại là thời đại mà tất cả những lý thuyết có từ thời Ánh sáng, đều đã bị đổ vỡ và xã hội tin học đã biến đổi vận mệnh của tri thức. 

Thụy Khuê tóm tắt: “ở thế kỷ Ánh sáng cũng như dưới thời Mác-xít, được hiểu như một sứ điệp truyền bá tư tưởng giải phóng con người, hoặc như một lý tưởng bất vụ lợi. Tri thức bây giờ, ở thời đại tin học này, trở thành món hàng tiêu dùng, buôn bán, cung cấp lợi nhuận như những hàng hóa khác, nó đã thoát khỏi bản quyền của con người.” Lập luận này cũng bắt gặp nơi triết gia Đức Jurgens Habermas trong bài tham luận “Modernity: An unfinished project”[5]

Tóm lại, chữ Hậu hiện đại năm 1934 được de Onis dùng để chỉ phong trào đổi mới văn học Tây Ban Nha, Châu Mỹ La Tinh, từ 1905 đến 1914, chủ trương vượt qua phong trào đổi mới văn học (Modernismo) ra đời năm 1890 của Ruben Dario, không dính dáng gì đến chữ Hậu hiện đại mà J.F. Lyotard dùng sau này, và một sự thật rằng thuật ngữ “ Hậu hiện đại” được sử dụng với nhiều ý nghĩa khác nhau, và các mục đích khác nhau tại từng tác giả[6].

Do đó, Thụy Khuê lưu ý: “Khi nói đến những tác giả thuộc chủ nghĩa hậu hiện đại, cũng cần phải xác định: chủ nghĩa hậu hiện đại nào? Có phải chủ nghiã hậu hiện đại mà giới phê bình Mỹ, những năm 60, dùng để chỉ định những tác giả Mỹ sinh khoảng 1930, mà tác phẩm có những yếu tố tân kỳ, quái đản? Nếu là đường lối hậu hiện đại đó, thì chỉ là sự trùng tên nhưng không cùng nội dung với lý thuyết hậu hiện đại của J.F. Lyotard, ra đời gần ba mươi năm sau. Vậy sự nhầm lẫn đã đến từ việc đồng hoá hai khái niệm khác nhau nhưng cùng tên này làm một.”

Với nhiều cách hiểu đa dạng như vậy, có chăng để thống nhất trong bài viết này, ta nên quay lại với cách dùng của Lyotard – người được xem là cha đẻ triết học Hậu hiện đại – để hiểu đúng đắn về thuật ngữ phức tạp này. Đọc lại Hoàn cảnh Hậu hiện đại, ta không khó nhận ra rằng tác giả đã chủ ý gói gọn cụm từ Hậu hiện đại trong hai ý nghĩa ngắn gọn:

  • Hoàn cảnh tri thức trong các xã hội phát triển: “Đối tượng công trình nghiên cứu này là hoàn cảnh của tri thức trong các xã hội phát triển nhất. Chúng tôi quyết định gọi đó là Hậu hiện đại…..Nó chỉ trạng thái của văn hóa sau sau những biến đổi tác động đến các quy tắc trò chơi của khoa học, văn học và nghệ thuật từ cuối thế kỷ XIX.”[7]

  • Hậu hiện đại là hoài nghi đối với các siêu tự sự: “ Nói một cách thật đơn giản, Hậu hiện đại là sự hoài nghi đối với các siêu tự sự. Nó hiểu nhiên là kết quả của sự tiến bộ của các khoa học; nhưng sự tiến bộ này đến lượt nó lại tiền giả định sự hoài nghi đó…..”[8]

Chính lẽ đó, tôi nghĩ có thể kết luận ngay rằng, thực chất “chủ nghĩa Hậu hiện đại” là một phóng tác quá đà từ khái niệm “Hậu hiện đại” ban đầu, tương tự như phong trào Hippy đối với Chủ nghĩa Hiện sinh; hay Chủ nghĩa phát xít diệt chủng đối với thuyết lựa chọn tự nhiên của Darwin.

Tóm lại, với khái niệm Hậu hiện đại, ta sẽ có ngay hai cách hiểu:

Một là “chủ nghĩa Hậu hiện đại” là một hệ thống lý luận với chủ trương đả phá các tiền đề của Chủ nghĩa Hiện đại trong từng lĩnh vực tương ứng. Đó là một chủ nghĩa gọi chung về một phong trào có mặt tại khắp mọi nơi: từ văn học, ca nhạc, kiến trúc,v..v... gọi chung là nghệ thuật, đến những lối sống quái dị, cổ quái nào đó của các thành phần người nhằm hướng đến giá trị chối bỏ sự thật khách quan và siêu tự sự. Chủ nghĩa hậu hiện đại nhấn mạnh vai trò của ngôn ngữ, những quan hệ quyền lực, động cơ thúc đẩy; đặc biệt nó tấn công việc sử dụng những sự phân loại rõ ràng như nam với nữ, bình thường với đồng tính, trắng với đen, đế quốc với thực dân.

Hai là một “tâm thức Hậu hiện đại” với một lối tư duy ngỡ ngàng về những hậu quả của chủ nghĩa Hiện đại đã mang lại, từ đó hoài nghi về những lý tưởng mà chủ nghĩa Hiện đại đã mượn danh khoa học và chân lý gán ép vào nó. Đó là một yêu cầu của người trí thức phải có tâm thế sẵn sàng tiếp nhận một thế giới đang chuyển mình, một thế giới mà tri thức trong đó trở nên phổ quát như một loại hàng hóa, người trí thức trở nên giải thiêng thành những người phàm tục. Uy quyền của khoa học bỗng biến mất bởi sự đa nguyên tư tưởng mà phần nhiều do Công nghệ thông tin và truyền thông tạo nên. Từ đó hình thành nên nhu cầu khẳng định cái”tôi” riêng lẻ của mỗi người; sự khẳng định cái Tôi này không phải là sự khẳng định cá biệt, độc nhất theo kiểu Thuyết hiện sinh mà là sự khẳng định “tôi” trong sự thích ứng trong mọi hoàn cảnh hiện thực mà không đánh mất chính bản sắc của mình.

Nói một cách dễ hiểu, con người giờ đây không phải đem “Mình” “vươn lên” sự hiện sinh bằng sự “buồn nôn” thực tại mà là sự sống bàng bạc, thích ứng trong mọi thực tại, nó không vươn lên mà vẫy vùng trong cái bàng bạc “ai cũng như ai” đó. Điều này, ở Việt Nam, tôi bắt gặp ở Nguyễn Ngọc Tư trong các tác phẩm của cô, đặc biệt là tập truyện ngắn: “Ngày mai của những ngày mai”.

…………Đến sự phức tạp của: “Tôn giáo mới”

Theo GS. Đỗ Quang Hưng, giới nghiên cứu thường xem phong trào “New Ages” xuất hiện ở Mỹ năm 1967 – 1968 là sự bắt đầu của hiện tượng Tôn giáo mới trên thế giới.[9] Tuy nhiên ở một bài nghiên cứu ở góc độ khác, tác giả Nguyễn Ngọc Phương Trang lại cho biết: Khái niệm “Tôn giáo mới” lần đầu tiên xuất hiện tại Nhật Bản là vào thời gian sau kết thúc Thế chiến 2 (1945). [10]

Cũng theo tác giả này, có nhiều cách hiểu về thuật ngữ “tôn giáo mới” khác nhau nhưng nếu theo quan điểm của Giáo sư Inoue Nobutaka của Đại học Kogakuin Nhật Bản thì có 4 cách hiểu:

  • Tôn giáo mới là các tôn giáo xuất hiện từ đầu thế kỷ XIX.

  • Tôn giáo mới là các tôn giáo xuất hiện khoảng trong thời kỳ Duy tân Minh Trị đến nay.

  • Tôn giáo mới là các tôn giáo xuất hiện từ đầu thế kỷ XX.

  • Tôn giáo xuất hiện sau Thế chiến 2. 

Cũng trong chiều tiếp cận về lịch sử thuật ngữ, PGS. Trương Văn Chung có đưa ra nhận xét rằng người ta chưa đưa ra được định nghĩa về tôn giáo mới vì không xác lập được các tiêu chuẩn, tiêu chí để mô tả một nhóm nào đó như là một tôn giáo trong phong trào tôn giáo mới; do chính “bản thân thuật ngữ Tôn giáo mới còn rất mơ hồ, không bao quát hết được tính đa dạng, tính không ổn định, đặc trưng, các chiều kích tôn giáo….”[11]. Cũng như  không thể định nghĩa hay tạo ra một chuẩn mực chung nào để nhận biết được “tính mới” trong cụm từ “Tôn giáo mới” này.

Do đó ta phải xuất phát hiểu thuật ngữ Tôn giáo mới ở cách sử dụng nó trong đời sống hiện thực; tôi dễ thấy rằng việc sử dụng thuật ngữ này thường để chỉ các nhóm tôn giáo có nguồn gốc gần đây hoặc từ các tôn giáo khác. Từ đây có thể đưa ra những phác thảo cơ bản về nội hàm của khái niệm này:

Phong trào tôn giáo mới (New religious movement - NRM) là một cộng đoàn tôn giáo, nhóm đạo đức, tâm linh hay triết học có nguồn gốc từ kỷ nguyên hiện đại[12]. Phong trào Tôn giáo mới có thể có nguồn  gốc mới lạ hoặc có thể là một phần của một tôn giáo rộng lớn hơn như Thiên Chúa giáo, Phật giáo, Ấn Độ giáo trong trường hợp đó họ sẽ có khác biệt với các giáo phái có từ trước.

Từ sự phức tạp này, một điểm lưu ý khi tiếp cận đến hiện thực các Tôn giáo mới là người nghiên cứu phải đi từ cái cụ thể tức là từng Tôn giáo cụ thể vì khó có thể khái quát MỘT dạng chung nhất cho các loại Tôn giáo mới. Tuy nhiên với tư cách là một ngành khoa học thì Tôn giáo học vẫn cho phép ta khái quát các dạng đặc điểm của một số hoặc một nhóm Tôn giáo cụ thể. Các đặc điểm có thể tạm rút ra như sau:

  • Thứ nhất, các Tôn giáo mới khá giống nhau ở quan niệm về người sáng lập ra chúng là một người đã giác ngộ được chân lý thật sự (có hoặc không cần sự mặc khải)

  • Thứ hai, dựa trên sự giác ngộ của Đấng Giáo Chủ đó thì với quan điểm của Tôn giáo mới tất cả giáo lý đã có của Tôn giáo truyền thống chỉ toàn những sai lầm và không giải thoát thực sự..

  • Thứ ba, lễ nghi trong các tôn giáo mới chủ yếu mang tính chất tập thể, có thể chú trọng sử dụng các kỹ thuật đa phương tiện hiện đại cũng như các thủ pháp tâm lý để quan tâm đến những tín đồ mới, làm cho họ thích nghi với nhóm.

  • Thứ tư, các nhà lãnh đạo của các Tôn giáo mới bao giờ cũng theo xu hướng “duy ngã độc tôn” luôn cho Tôn giáo mình là đúng đắn nhất và tỏ thái độ đối đầu đối với những người có Tôn giáo khác; chứ không tồn tại một thái độ “bàng quang”, “không quan tâm”.

  • Thứ năm, giáo lý của các Tôn giáo mới, trong xu hướng của nó tồn tại 2 quan điểm trái ngược: Hoặc cố gắng dung hòa với các lý thuyết khoa học, hoặc tỏ thái độ thù địch với khoa học tiến bộ.

  • Thứ sáu, về đa số các Tôn giáo mới, bản chất của không khác gì các Tôn giáo truyền thống, nhưng đặc biệt ở điểm đó là sự quay ngược lại “tính nguyên thủy” của các Tôn giáo truyền thống đó, vốn được Tôn giáo này (có thể) đã loại bỏ trong lịch sử phát triển của mình.

Sự song hành của phong trào Tôn giáo mới với Hậu hiện đại [chủ nghĩa]……..

Với những gì đã trình bày ở mục Hậu hiện đại, có thể nói đặc điểm chính yếu của chủ nghĩa hậu hiện đại là một thái độ cấp tiến trong việc nhìn vào cuộc đời, thể hiện tinh thần đa nguyên, chối bỏ sự thống nhất áp đặt, chú trọng sự riêng biệt của cá nhân cụ thể mà do đó tinh thần xuyên suốt là sự hoài nghi của hoài nghi các lý tưởng, thậm chí với cả hiện thực trước mắt.

Trong không khí ngờ vực mà chủ nghĩa hậu hiện đại tạo ra. Không chỉ niềm tin nơi Thượng đế đã bị lật đổ mà sự thật được khoa học nêu ra cũng không còn giá trị phổ quát; các nhà khoa học không khác các nhà thần học. Mọi chân lý chi là chủ quan và tương đối. Mọi giá trị đều bị đảo lộn. Mỗi người đều tự do quyết định điều gì là đúng hay là sai, điều gì là tốt hay là xấu. Mọi cách nhìn về cuộc đời đều đồng đẳng. Khi phán đoán và đánh giá về sự vật, câu hỏi đặt ra không còn là điều đó thật hay giả mà là điều đó mang lại cho con người cảm tưởng gì. Nếu cảm giác của con người về một sự vật là đúng tốt thì sự vật đó đúng tốt, và tất cả những gì được cảm nhận đều là thật.

Có thể thấy ngay biểu hiện của Chủ nghĩa hậu hiện đại trong đời sống thường nhật là đem lại một nền văn hóa đại chúng của tầng lớp bình dân, khác với nền văn hóa học thức của thời Ánh Sáng. Chủ đạo của văn hóa đại chúng chỉ là giải trí: phim ảnh, kịch truyền hình có nội dung dễ dãi, ủy mị nhiều tập, nghệ thuật quảng cáo ru ngủ, chương trình thiết kế thời trang lố lăng, tiểu thuyết rẻ tiền, âm nhạc ồn ào với lời ca dung tục được trình diễn một cách tùy tiện không cần chuẩn mực, hệ thống.

Mặt khác, "hậu hiện đại" là con đẻ của phong trào "toàn cầu hóa", hay nói đúng hơn là phản đề của lý tính đồng nhất hóa. Chính vì vậy, hậu hiện đại với lối suy tư chủ trương "đa dạng hóa” đã cảm thấy nhàm chán trong sự "ổn định" có tính chất tù túng ràng buộc; đồng thời nhận ra sự sống của con người đang bị những khoa học, máy móc kiểm soát. Do đó, nhu cầu về sự “riêng biệt” ra đời. Những đòi hỏi “riêng biệt” này cũng xâm nhập vào "truyền thống tôn giáo", đặt ra những vấn đề "thông diễn" khác nhau với những nhu cầu khác nhau, như Thần Học Giải Phóng, bao gồm Thần Học Phụ Nữ, Thần Học Giáo Hội Ðịa Phương, nghi lễ biểu lộ theo những tượng trưng địa phương.

Do đó, từ những đặc điểm của Phong trào Tôn giáo mới đã khái quát ở mục trước, ta dễ dàng thấy một sự tương quan nhất định nếu không muốn nói là sự đồng hành giữa sự nảy sinh và phát triển của Tôn giáo mới và Chủ nghĩa Hậu hiện đại, đó là sự giải phóng của con người trong lãnh vực Tôn giáo ra khỏi những quy ước, những giáo lý, giáo luật, những cách chú giải Kinh sách của Tôn giáo truyền thống.

Phong trào này mong muốn và sự thật đã kéo Tôn giáo trở về lại với tín đồ. Người tín đồ không còn phải những gì xa lạ với bản thân mà phải thông qua trải nghiệm tôn giáo của riêng mình, mà tín đồ được chọn lựa, được đi theo niềm tin của mình thật sự tin tưởng.

…Lẫn sự đối nghịch giữa phong trào Tôn giáo mới và Hậu hiện đại [tâm thức]

Nhắc đến tâm thức hậu hiện đại cần phải xác định lại rằng: “Hậu hiện đại là sự hoài nghi đối với các siêu tự sự. Nó hiển nhiên là kết quả của sự tiến bộ của các khoa học; nhưng sự tiến bộ này đến lượt nó lại tiền giả định sự hoài nghi đó. Tương ứng với sự già cỗi của cơ chế siêu tự sự trong việc hợp thức hóa là sự khủng hoảng của nền triết học siêu hình học, cũng như sự khủng hoảng của thiết chế đại học phụ thuộc vào nó” [13]

Hậu hiện đại mà Lyotard xác định là hậu hiện đại phương Tây, là kết quả của sự phản tư của lý tính - một lý tính đã trưởng thành để nhận thức sự hữu hạn và năng lực của con người từ những phát hiện của khoa học, sự bùng nổ của cách mạng công nghệ, từ sự đổ vỡ của những thể chế chính trị, sự khủng hoảng của các học thuyết giáo điều cùng với cuộc chạy đua chiến tranh, phân biệt chủng tộc, mất bình đẳng giới, chênh lệch giàu nghèo … là những cơ sở sâu xa để cảm thức hậu hiện đại xuất hiện. Con người “thấy” (cảm thức) mọi sự thật tưởng như vĩnh hằng là không có thật. Lý trí của con người không còn là điểm tựa của nhận thức. Tính phổ quát, tính tất yếu bị phá vỡ. Con người bị bao vây trong những hiện tượng bất toàn.

Con người chỉ có thể điều chỉnh điều kiện tồn tại của riêng mình trong mối tương quan với những điều kiện tồn tại của kẻ khác. Mỗi người có thể cùng lúc nhìn thấy nhiều thế giới khác nhau và có thể bị chi phối cùng lúc bởi nhiều hệ quy chiếu khác nhau. Họ không còn thực sự tin vào một thứ quy luật nào to lớn bao trùm tất cả, mà tin vào những thí nghiệm và ứng dụng ở quy mô nhỏ.

Mọi cái trong tầm nhìn Hậu hiện đại đều là tạm thời, ngẫu nhiên, không thống nhất, không ổn định, không có tính hợp lý, không có tính khách quan.

Trong bối cảnh đó, người trí thức phải nâng tầm mình lên, phải tự mình đưa ra diễn ngôn cho hành động của mình và thông hiểu diễn ngôn của những người khác. Sẽ không còn cho một độc quyền chân lý, một quyền lực cho chân lý. Mọi chân lý phải được đối thoại và thống nhất. Xung đột của những diễn ngôn phải được giải quyết không bằng bạo lực và quyền lực. Nói cách khác, người có quyền lực phải lắng nghe những người không có quyền lực; những người có quyền lực phải lắng nghe lẫn nhau; sự yếu thế được chở che, sự đa dạng được lên ngôi. Thời đại lý trí san bằng những thứ khác nó sẽ qua đi.

Nhìn vào đó, tâm thức Hậu hiện đại là một lý tưởng cho người trí thức trong một bối cảnh Hậu hiện đại. Một giá trị nhân sinh cho con người ở việc họ phải tự nâng tầm mình lên trong một thời đại mới.

Nhưng phong trào Tôn giáo mới không làm được điều đó cho con người trong không gian tâm thức này. Nó giải phóng con người ra khỏi những giáo điều cũ nhưng lại thiết lập giáo điều mới bao quanh con người. Nó giải phóng con người ra khỏi niềm tin, xúc cảm cũ đã bị quy định bằng lí tính, nhưng lại thiết lập một niềm tin, xúc cảm bị qui định bằng lí tính bất toàn và hoài nghi. Nó không trao cho con người cơ hội hoàn thiện lí trí của mình bằng sự tự giải đáp hoài nghi đó, mà dựa vào sự hoài nghi tự nhiên của Hậu hiện đại, nó đã tự giải đáp bằng cách của riêng nó mà để con người hoang mang đó tin theo.

Vì lẽ đó, sự giải phóng của phong trào Tôn giáo mới đối với con người, chỉ là sự giải phóng nửa vời, chỉ là sự hứa hẹn nửa vời như bao Tôn giáo truyền thống khác. Nó thiết lập những giáo điều mới dựa trên sự phản bác của giáo điều cũ song lại không thể đưa ra con đường nào khác ngoài con đường mà giáo điều cũ đã đưa ra. Sự thay đổi về phương pháp không phải là yêu cầu mà tâm thức hậu hiện đại hướng đến, mà là sự thay đổi hoàn toàn cả về mục đích do đó cả về phương pháp.

Nhìn vào bản chất này, rõ ràng, phong trào Tôn giáo mới đầy tính “phi” hậu hiện đại, tức là không ăn nhập gì, không liên quan gì đến con đường hậu hiện đại đang đi. Và nếu như có cái nhìn khắc nghiệt hơn, ta sẽ thấy Tôn giáo mới lại mang yếu tố “phản” hậu hiện đại; tức đi ngược lại lý tưởng của hậu hiện đại hướng đến, đi ngược lại con đường hậu hiện đại đang đi và tâm thức hậu hiện đại yêu cầu; dẫu rằng chính không gian hậu hiện đại đang diễn ra đó đã góp phần thúc đẩy phong trào Tôn giáo mới lên ngôi.

Tạm kết

Với tư cách là một hiện tượng xã hội thì phong trào Tôn giáo mới là một hiện tượng xã hội phức tạp, nhưng dù thế nào, nó vẫn mang bản chất Tôn giáo tức là bản chất siêu hiện thực. Nó kéo con người ra khỏi cái nhìn đúng đắn về thực tại mà thay thế bằng thế giới quan Tôn giáo, bằng phương pháp và lối giải thích huyền nhiệm Tôn giáo; làm con người đánh mất chính mình và cả niềm tin vào chính bản thân mình. Dù với những hứa hẹn nhất định rằng con người có thể tìm thấy niềm tin đó thông qua Nó nhưng trong hiện thực của nó, các Tôn giáo mới vẫn tạo ra một uy quyền Tối thượng buộc tín đồ của mình tuân theo.

Do đó, dù có thể nằm trong trào lưu Hậu hiện đại và chịu ảnh hưởng bởi trào lưu này bằng các cách thức, phương pháp khác nhau; thì phong trào Tôn giáo mới vẫn còn sự tách biệt, thậm chí đối lập nhất định với lý tưởng và con đường Hậu hiện đại đưa ra và hướng đến.

Đó là sự giải phóng của tâm thức con người khỏi sự ràng buộc của những “đại tự sự” mà Tôn giáo bao giờ cũng là một Đại Tự Sự lớn hơn cả.


 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Đỗ Quang Hưng, 2009, Nghiên cứu tôn giáo: Nhân vật và sự kiện, NXB. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh.

Đỗ Quang Hưng, Mối quan hệ giữa tín ngưỡng và hiện tượng Tôn giáo mới, 2013, [http://btgcp.gov.vn/Plus.aspx/vi/News/38/0/240/0/1766/]

Habermas J., Modernity: An unfinished project, bản trực tuyến tải về tại [www.postcolonial.net/@Backfile/_entries/4/file-pdf.pdf‎]

Jean–François Lyotard, 2007, Ngân xuyên dịch, Hoàn cảnh hậu hiện đại, NXB Tri thức,

Khổng Đức, Lyotard với chủ nghĩa Hậu Hiện Đại, 2013, [http://4phuong.net/ebook/46435517/lyotard-voi-chu-nghia-hau-hien-dai.html]

Kornev S., Ngân Xuyên dịch, 2009, Chủ nghĩa Hậu hiện đại phương Tây và phương Đông Hậu hiện đại: Vũ khí chống hậu hiện đại, 2013, [http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=115&News=2885&CategoryID=41]

Ngân Xuyên, 2008, Một nhầm lẫn Hậu hiện đại, [http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=115&CategoryID=41&News=2516]

Ngô Tự Lập, 2013, Ba cách hiểu về Hậu hiện đại, 2013, [http://www.vanvn.net/news/11/3612-ba-cach-hieu-ve-hau-hien-dai.html]

Nguyễn Minh Quân, 2012, Chủ nghĩa hậu hiện đại: Những khái niệm căn bản, 2013, [http://vannghequandoi.com.vn/802/newsưdetail/389316/phebinhvanhoc/chunghiahauhiendainhungkhainiemcanban.html]

Nguyễn Văn Dân, 2011, Chủ nghĩa Hậu hiện đại: Tồn tại hay không tồn tại, 2013, [http://www.vanvn.net/news/11/932-chu-nghia-hau-hien-dai---ton-tai-hay-khong-ton-tai.html]

Thích Giác Toàn, 2012, Phật giáo và Chủ nghĩa Hậu hiện đại, 2013, [http://www.daophatngaynay.com/vn/mobile/pg-nganh/xa-hoi/pg-td/11114-Phat-giao-voi-chu-nghia-hien-dai-va-hau-hien-dai.html]

Thụy Khuê, 2003, Hậu hiện đại: Thực chất và ảo tưởng, [http://thuykhue.free.fr/stt/h/HHD.html].

Trang Web Bách Khoa Tri Thức, Tôn giáo mới, 2013, [http://www.bachkhoatrithuc.vn/encyclopedia/4725-4725-633954468580564838/T--Ta-giao--Ty-kheo/Ton-giao-moi.htm]

Trung tâm Nghiên cứu Tôn giáo Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia TpHCM, 2013, Kỷ yếu hội thảo Khoa học quốc tế: Chủ nghĩa Hậu hiện đại và phong trào Tôn giáo mới ở Việt Nam và Thế giới, lưu hành nội bộ.

 

 

 



[1] Tham khảo thêm: Trương Văn Chung, Nguyễn Thoại Linh, Tình hình nghiên cứu tôn giáo mới ở Việt Nam, Kỷ yếu Hội thảo Khoa học quốc tế: Chủ nghĩa Hậu hiện đại và phong trào Tôn giáo mới ở Việt Nam và Thế giới, 2013, tr. 279 – 298.

[4] Lyotard J.F, Ngân Xuyên dịch, 2008, Hoàn cảnh Hậu hiện đại, NXB. Tri Thức, tr. 59-70.

[5] Đọc thêm: Habermas J., Modernity: An unfinished project, tải về tại [www.postcolonial.net/@Backfile/_entries/4/file-pdf.pdf‎]

[6] Đọc thêm: Ngân Xuyên, 2008, Một nhầm lẫn Hậu hiện đại, [http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=115&CategoryID=41&News=2516]

[7] Lyotard J.F, Ngân Xuyên dịch, 2008, Hoàn cảnh Hậu hiện đại, NXB. Tri Thức, tr. 53

[8] Sđd, tr. 54

[9] Đỗ Quang Hưng, Nghiên cứu Tôn giáo: Nhân vật và sự kiện, NXB. Tổng hợp TpHCM, 2009, tr. 227.

[10] Nguyễn Ngọc Phương Trang, 2012, Tôn giáo mới ở Nhật Bản từ sau Thế chiến 2 đến những năm 1990, Luận văn chuyên ngành Châu Á học, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – ĐH Quốc gia Hà Nội, tr. 4

[11] Trương Văn Chung, Về thuật ngữ Tôn giáo mới, Kỷ yếu Hội thảo Khoa học quốc tế: Chủ nghĩa Hậu hiện đại và phong trào Tôn giáo mới ở Việt Nam và Thế giới, 2013, tr. 298.

[12] Hiện đại hiểu là mốc thời gian lịch sử.

[13] Jean–François Lyotard, Hoàn cảnh hậu hiện đại, Ngân Xuyên dịch, NXB Tri thức, 2007, tr. 54

Góp ý
Họ và tên: *  
Email: *  
Tiêu đề: *  
Mã xác nhận:
 
 
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper  
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.