Vài nét về mối quan hệ giữa Tòa Thánh Vatican với Tòa Thượng phụ Constantinople hiện nay

Vào cuối tháng 11 năm 2014, Giáo hoàng Phanxicô đến thăm Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ theo lời mời của Thượng phụ Bartholomew I, Thượng phụ Đại kết Chính Thống giáo Constantinople . Đây là chuyến tông du thứ tư của những người đứng đầu Giáo hội Công giáo Rôma tới một trong những Tòa Thượng phụ hàng đầu của Giáo hội Kitô giáo Phương Đông hay còn được gọi là Chính Thống giáo.

Theo Ban Tôn giáo Chính phủ.

Chuyến tông du đầu tiên được thực hiện bởi Giáo hoàng Phaolô VI vào năm 1967,  tiếp đó là các chuyến tông du của Giáo hoàng Gioan Phaolô II vào năm 1979 và của Giáo hoàng Benedictô XVI vào năm 2006. Mục đích chuyến tông du Thổ Nhĩ Kỳ của Giáo hoàng Phanxicô lần này nhằm cải thiện thêm một bước trong quan hệ với các Giáo hội Chính Thống giáo. Ngài nói: “Tôi đến Thổ Nhĩ Kỳ như một người hành hương. Và, nếu nói một cách chính xác, tôi đến với ngày lễ Thánh Anrê (Andrew), đến với Thượng phụ Bartholomew I của Constantinople”.

Được biết, Istanbul, từng mang tên là Constantinople, nằm ở miền Tây - Bắc Thổ Nhĩ Kỳ, bên eo biển Bosphore, nối Hắc Hải với Địa Trung Hải, Châu Âu với Châu Á. Đây là thành phố đông dân nhất và từng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của Thổ Nhĩ Kỳ, là kinh đô của bốn nền đế chế trong lịch sử: Đế chế La Mã (330-395); Đế chế Byzantin (395-1204; 1261-1453); Đế chế Đông La Mã (1204-1261) và Đế chế Ottoman (1453-1922). Trước Đế chế Ottoman, Istanbul là nơi chứng kiến sự phát triển của Kitô giáo về phía Đông. Năm 2010, Istanbul đã được Liên minh Châu Âu vinh danh là thủ đô văn hoá Châu Âu.

Như vừa nói ở trên, các cuộc thăm viếng chính thức lẫn nhau giữa các Thượng phụ Chính Thống giáo Constantinople và các Giáo hoàng của Giáo hội Công giáo Rôma được bắt đầu từ ngày 7 tháng 12 năm 1964, nghĩa là từ khi Thượng Phụ Athenagoras I và Giáo hoàng Phaolô VI quyết định hủy bỏ vạ tuyệt thông lẫn nhau. Nhưng các cuộc tiếp xúc này chỉ là phần nổi của tảng băng trôi, mà nền tảng của nó là các cuộc đối thoại thần học thường xuyên giữa Tòa Thượng phụ Chính Thống giáo Constantinople và Giáo hội Công giáo Rôma.

Ở đây cần xác định rõ hai cách nhận thức về đại kết đang thịnh hành trong các Giáo hội Chính Thống giáo, mà trước hết là trong quan hệ của họ với những người Công giáo. Cách nhận thức thứ nhất cho rằng, các cuộc tiếp xúc đại kết chỉ được giới hạn ở những cuộc thảo luận về các vấn đề  liên tôn khác nhau, cùng nhau bảo vệ các giá trị truyền thống Châu Âu và phụng vụ xã hội. Cách nhận thức thứ hai hiểu đại kết như là một phương thức để đạt được sự hiệp nhất thực sự trong thế giới Kitô giáo. Tuy nhiên, trong nhận thức của cả người Công giáo lẫn người Chính Thống giáo thì một sự hiệp nhất như vậy chỉ có thể đạt được ở những giáo hội gìn giữ được sự kế thừa tông đồ của hàng giám mục và giáo lý của các công đồng chung. Tòa Thượng phụ Constantinople đang đi theo cách nhận thức thứ hai.

Sự phát triển cuộc đối thoại tích cực giữa Tòa Thượng phụ Constantinople với Tòa Thánh Vatican được bắt đầu từ ngày 21 tháng 11 năm 1964, sau khi các nghị phụ Công đồng Vatican II thông qua sắc lệnh về Hiệp nhất (Unitatis Redintegratio- Tái lập sự hiệp nhất), mở đầu cho cuộc đối thoại giữa Giáo hội Công giáo với các Giáo hội Kitô giáo khác nhằm nối lại quan hệ với các Giáo hội trước đây bị chia rẽ nay trở về đoàn tụ và sắc lệnh Các Giáo hội Phương Đông (Orientalium Ecclesiaru) nhằm tăng thêm nhiều cuộc tiếp xúc với các Giáo hội Phương Đông. Trong các sắc lệnh này có nhiều khoản luật nói về quan hệ với các Giáo hội Phương Đông. Đặc biệt, trong đó nói rằng, người Công giáo phải tính đến đặc điểm những mối quan hệ lịch sử của các Tòa Thượng phụ Phương Đông hàng đầu như: Constantinople, Alexandria, Antioch và Jerusalem đối với Tòa Thánh Vatican. Cũng cần phải lưu ý rằng, sự hình thành nền thần học ở Phương Đông và Phương Tây đã đi theo hai đường song song, hai truyền thống này sử dụng hệ thống khái niệm và các ngôn từ khác nhau trong các nền thần học của mình. Điều này dẫn đến sự thiếu hiểu biết và phản đối lẫn nhau. Ngay trước khi kết thúc Công đồng Vatican II, Thượng phụ Athenagoras I và Giáo hoàng Phaolô VI  đã tuyên bố hủy bỏ cho nhau vạ tuyệt thông được áp đặt trong cuộc đại ly giáo vào năm 1054. Những sự kiện quan trọng này đánh dấu sự thay đổi quan điểm mang tính nguyên tắc trong đối thoại giữa hai Giáo hội.

Trước hết cần phải nhắc tới cuộc gặp gỡ của những người đứng đầu Tòa Thánh Vatican và Tòa Thượng phụ Constantinople tại Balamand (Li-băng) vào năm 1993, mà kết quả của nó là một bản “Tuyên bố chung”, trong đó cả hai Giáo hội đều thừa nhận nhau là những Giáo hội chị em.

Tuy nhiên, quan trọng nhất là hiệp định đạt được tại Ravenna (Italia) vào năm 2007. Vấn đề chính được nêu ra trong văn kiện của hiệp định này là mối tương quan giữa Giáo hội Hoàn vũ với các Giáo hội địa phương. Làm thế nào để Giáo hội thể hiện được tính phổ quát của mình? Đây là câu hỏi liên quan đến một loạt khía cạnh của đời sống Giáo hội như: thần học, giáo luật, pháp lý, v.v…Vấn đề là ở chỗ, một Giáo hội địa phương chỉ trở nên chính thống khi có sự hiệp thông với các Giáo hội địa phương khác. Tuy nhiên, một câu hỏi khác được đặt ra là: Liệu tính phổ quát này có cần được thể hiện trong một quy chế cụ thể nhằm đảm bảo cho sự hiệp nhất Giáo hội hay không? Hiệp định Ravenna khẳng định là cần. Bản thân tư tưởng này không phải là xa lạ đối với truyền thống Chính Thống giáo. Chỉ cần nhớ lại những khoản luật thứ 9, thứ 17 và thứ 28 trong tổng số 28 khoản luật của Công đồng chung Chalcedon hay còn gọi là Công đồng Calcedonia do Hoàng đế Marcianus, một người ủng hộ lập trường của Giáo hội Công giáo Rôma, triệu tập năm 451, chúng ta sẽ thấy, về tổ chức giáo hội, Công đồng Calcedonia công nhận khoản luật của Công đồng Constantinopole về các đặc ân dành cho Tòa Thượng phụ Constantinople và coi đây là Rôma mới, có quyền hạn rộng lớn nhất trong thế giới Kitô giáo Phương Đông. Bởi vì, ở thành phố này có sự hiện của hoàng đế, của thượng viện và cùng thừa hưởng những đặc quyền như cố đô Rôma. Do đó, thành phố này đóng vai trò quan trọng trong các công việc của Giáo hội, chỉ sau Rôma. Lịch sử của những khoản luật này rất phức tạp. Trong một thời gian dài Giáo hội Công giáo Rôma đã không chịu thừa nhận chúng. Tuy nhiên, chính sự tồn tại của những khoản luật này nói lên một điều rằng, Chính Thống giáo Phương Đông không phải lúc nào cũng xuất phát từ ý tưởng về sự bình đẳng của các Giáo hội địa phương, mà đây là sự biện minh cho tư tưởng về địa vị đứng đầu.

Tuy nhiên, trong văn kiện của hiệp định Ravenna ghi nhận rằng, sự nhận thức về bản chất của địa vị đứng đầu ở Giáo hội Phương Đông và Giáo hội Phương Tây vẫn còn khác nhau. Nếu Giáo hội Công giáo Rôma khi diễn giải bản chất này đã nhấn mạnh vào chính quyền quân chủ của Giáo hoàng, thì các Giáo hội Chính Thống giáo lại quan tâm đến việc đem lại cho các Giáo hội địa phương những quyền hạn rộng lớn hơn. Điều cuối cùng trong văn kiện của hiệp định Ravenna là lời kêu gọi những người làm ra văn kiện này cần nghiên cứu sâu hơn vấn đề về địa vị đứng đầu của các giám mục của Giáo hội Công giáo Rôma và Tòa Thượng phụ Chính Thống giáo Constantinople.

Văn kiện của hiệp định Ravenna được thế giới Chính Thống giáo tiếp nhận với những thái độ khác nhau. Những người đại diện của Giáo hội Chính Thống giáo Nga đã từ chối ký vào văn kiện này. Tuy nhiên, địa vị đứng đầu của Tòa Thượng phụ Chính Thống giáo Constantinople đều được tất cả các Giáo hội Chính Thống giáo công nhận, trong đó có cả Tòa Thượng phụ Mát-xcơ-va. Mặc dù vậy, cách giải thích về vấn đề này vẫn còn có sự khác nhau. Hầu hết các Giáo hội Chính Thống giáo địa phương đều công nhận một phần hoặc toàn bộ quyền của Tòa Thượng phụ Constantinople trong việc giải quyết một số vấn đề nội bộ của các giáo phận và các tổng giáo phận không nằm trực tiếp trong phạm vi thẩm quyền của mình. Ví dụ, việc thuyên chuyển Thượng phụ Irênê của Tòa Thượng phụ Jerusalem trong năm 2004. Tuy nhiên, Tòa Thượng phụ Mát-xcơ-va chỉ thừa nhận “địa vị đứng đầu danh dự” của Tòa Thượng phụ Constantinople và kịch liệt phản đối bất kỳ nỗ lực nào của Tòa Thượng phụ này nhằm can thiệp vào công việc của Giáo hội Chính Thống giáo Nga.

Tuy nhiên, nhìn một cách tổng thể, hiệp định Ravenna đã góp phần thúc đẩy một cách đáng kể quá trình đối thoại giữa Tòa Thượng phụ Constantinople và Tòa Thánh Vatican. Các bên đã từ bỏ những quyết định và kết luận còn hời hợt và cùng nhau đưa ra những nghiên cứu sâu sắc hơn.

Cũng cần phải nói thêm rằng, chuyến viếng thăm Istanbul (Thổ Nhĩ Kỳ) của Giáo hoàng Phanxicô được đề cập tới trong phần mở đầu bài viết này thực sự không phải là một chuyến viếng thăm mang ý nghĩa đặc biệt. Trước Ngài đã từng có tới 3 cuộc viếng thăm tương tự của những người đứng đầu Giáo hội Công giáo Rôma và đây là chuyến viếng thăm lần thứ tư. Chuyến viếng thăm Istanbul lần này của người đứng đầu Giáo hội Công giáo Rôma được ghi nhận như một cử chỉ tôn trọng quan hệ với Giáo hội Chính Thống giáo và nhằm xích gần lại với Tòa Thượng phụ Constantinople như chính bản thân Giáo hoàng Phanxicô đã xác nhận.

Như chúng ta đã biết, những thời điểm quyết định của cuộc đối thoại giữa Tòa Thánh Vatican và Tòa Thượng phụ Constantinople không diễn ra tại các cuộc gặp gỡ chính thức giữa những người đứng đầu của hai Giáo hội, mà chúng thường diễn ra trong các cuộc đàm phán phức tạp về thần học và ngoại giao. Trong các cuộc gặp gỡ chính thức, chúng ta chỉ nhìn thấy kết quả của những công việc lâu dài và gian khó của nhiều người. Tuy nhiên, một số câu nói quan trọng của Giáo hoàng Phanxicô trong các cuộc đối thoại đó vẫn luôn được công chúng quan tâm và chia sẻ.

Trước hết, Giáo hoàng Phanxicô một lần nữa khẳng định lại sự trung thành của Ngài đối với những nguyên tắc đã được quy định trong Sắc lệnh về Hiệp nhất (Unitatis Redintegratio – Tái lập sự Hiệp nhất). Ngài nói: “Trong Sắc lệnh này Giáo hội Công giáo thừa nhận rằng, các Giáo hội Chính Thống giáo có những bí tích thật sự ... nhờ đó mà họ đang ở rất gần với chúng ta”. Và Giáo hoàng Phanxicô cũng khẳng định các nguyên tắc trong đối thoại với các Giáo hội Chính Thống giáo, đó là: “Để đạt được mục đích mong muốn có được một sự hiệp nhất trọn vẹn, Giáo hội Công giáo không có ý định áp đặt bất kỳ một yêu cầu nào khác ngoài sự tín ngưỡng một đức tin chung, và chúng ta sẵn sàng cùng nhau tìm kiếm, dưới ánh sáng giáo lý của Kinh Thánh và kinh nghiệm của thiên niên kỷ thứ nhất, các phương thức có thể đảm bảo một sự hiệp nhất cần thiết của Giáo hội trong những hoàn cảnh hiện tồn”.

Mới đây nhất, ngày 27 tháng 6 năm 2015, trong buổi tiếp một phái đoàn của Thượng phụ Bartholomew I sang Rôma tham dự lễ hai Thánh Tông Đồ Phêrô và Phaolô, Giáo hoàng Phanxicô nói : “ Sự hiện diện của anh em tại ngày lễ này của chúng tôi đã minh chứng một lần nữa mối quan hệ sâu sắc giữa các Giáo hội chị em Rôma và Constantinople, là điềm báo trước của mối dây liên kết giữa hai vị thánh bổn mạng tương ứng của các Giáo hội chúng ta là các Thánh Tông Đồ Phêrô và Anrê, vừa là anh em ruột thịt vừa là anh em trong đức tin, hiệp nhất trong sứ vụ tông đồ và trong tử đạo”.

Khi bày tỏ sự hỗ trợ của mình cho công việc của Ủy ban Quốc tế đối thoại thần học giữa hai Giáo hội Công giáo và Chính Thống giáo, Giáo hoàng Phanxicô nói: “ Những vấn đề chúng ta có thể gặp phải trong quá trình đối thoại thần học không được dẫn chúng ta đến chỗ chán nản hoặc rút lui. Việc tự vấn cẩn thận cách thế quy định các nguyên tắc của tính đồng đoàn và sứ vụ của người lãnh đạo, sẽ có những đóng góp đáng kể vào sự tiến bộ trong các mối quan hệ giữa hai Giáo hội chúng ta”.

Do vậy, có thể nói rằng, cuộc gặp gỡ tháng 11 năm 2014 của Giáo hoàng Phanxicô với Thượng Phụ Bartholomew I và những cuộc gặp gỡ tiếp theo ở những cấp độ khác nhau phù hợp với xu hướng chung của Phong trào Hiệp nhất giữa Tòa Thượng phụ Constantinople và Tòa Thánh Vatican. Tuy nhiên, khó có thể nói đến một sự hiệp nhất giữa hai Giáo hội trong tương lai gần, nhưng dù sao đây cũng là những bước tiến trên con đường đại kết sau nhiều thế kỷ tranh cãi triền miên giữa Giáo hội Công giáo và các Giáo hội Chính Thống giáo.    

TS. Nguyễn Văn Dũng

Góp ý
Họ và tên: *  
Email: *  
Tiêu đề: *  
Mã xác nhận:
 
 
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper  
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.